Truy cập nội dung luôn

 

Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử UBND Huyện Chợ Gạo

Chi tiết tin

Đề cương tuyên truyền Đại hội đại biểu huyện Chợ Gạo lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 - 2015
29/06/2020

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Đại hội đại biểu huyện Chợ Gạo lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 - 2025

(kèm theo Công văn 301-CV/BTGHU ngày 01/7/2020 của BTG Huyện ủy)

-----

I. Ý nghĩa và tầm quan trọng của Đại hội đại biểu đảng bộ huyện lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Chợ Gạo lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 – 2025 dự kiến tổ chức trong tháng 8 năm 2020, tại Hội trường Ủy ban nhân dân huyện. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng của toàn Đảng bộ, toàn dân và toàn quân huyện Chợ Gạo có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của huyện trong giai đoạn 2020 - 2025, tạo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng và hành động trong toàn xã hội.

Đại hội diễn ra trong thời điểm đất nước ta trải qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991), trong đó có 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng vào năm 2030 và kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập nước vào năm 2045.

Đại hội đại biểu đảng bộ huyện lần thứ XII còn là dấu mốc rất quan trọng, vì trong năm 2020, ngoài nhiệm vụ tổ chức thành công đại hội đảng các cấp trên địa bàn, Đảng bộ phải quyết tâm tập trung lãnh đạo hoàn thành 9/9 tiêu chí xây dựng huyện nông thôn mới để đề nghị Trung ương công nhận huyện nông thôn mới trong năm 2020; đồng thời Đại hội lần này có ý nghĩa định hướng tương lai, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa huyện Chợ Gạo phát triển nhanh và bền vững.

(Pano Tuyên truyền Đại hội Đảng Trung ương)

(Pano Tuyên truyền Đại hội Đảng bộ huyện Chợ Gạo)

II. Quá trình chuẩn bị Đại hội

Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ngày 19 tháng 8 năm 2019 Ban Thường vụ Huyện uỷ ban hành Kế hoạch số 95-KH/HU thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về tổ chức đại hội đảng bộ các cấp trên địa bàn huyện nhiệm kỳ 2020 – 2025. Đồng thời thành lập các tiểu ban như: Tiểu ban Văn kiện, Tiểu ban Nhân sự và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội đại biểu đảng bộ huyện lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 – 2025. Các Tiểu ban đã ban hành các kế hoạch tổ chức thực hiện và chọn các đơn vị cơ sở làm điểm đại hội để rút kinh nghiệm chỉ đạo chung cho Đại hội các chi, đảng bộ cơ sở.

Để chuẩn bị tốt nội dung dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XI trình Đại hội XII, Ban Thường vụ Huyện ủy đã chỉ đạo triển khai lấy ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trên địa bàn huyện, trong đó có cả cán bộ hưu trí nguyên là lãnh đạo Huyện ủy qua các nhiệm kỳ đại hội đang sinh sống trên địa bàn huyện... Hầu hết ý kiến đóng góp nhiệt tình, thẳng thắn và tâm huyết, thể hiện tinh thần trách nhiệm, mong muốn huyện nhà ngày càng phát triển nhanh và bền vững. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XI tiếp thu và bổ sung vào dự thảo Báo cáo chính trị trình tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII.

Công tác chuẩn bị nhân sự được Ban Thường vụ Huyện ủy thực hiện chặt chẽ, tổ chức thảo luận và xác định đúng yêu cầu, tiêu chuẩn, cơ cấu và đảm bảo đúng quy trình giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XII trình Đại hội.

III. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện qua các thời kỳ:

1. Các kỳ Đại hội đại biểu đảng bộ huyện:

1.1. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ I, nhiệm kỳ 1977 – 1979:

Đại hội khai mạc vào ngày 27/5/1977. Đại hội đã kiểm điểm đánh giá tình hình trước và sau thời điểm giải phóng 30/4/1975, đề ra phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 1977 – 1979. Đại hội đã bầu ra 27 Ủy viên chính thức BCH Đảng bộ huyện và 02 Ủy viên dự khuyết; bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên; bầu Ban Thường vụ 09 đồng chí. Đại hội bầu đồng chí Võ Hữu Đức làm Bí thư, đồng chí Đoàn Minh Cương và đồng chí Lê Hưởng làm Phó Bí thư.

1.2. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ II, nhiệm kỳ 1979 – 1982:

Đại hội diễn ra từ ngày 08 đến ngày 12/10/1979. Đại hội triệu tập 150 đại biểu, có mặt 139 đại biểu. Đại hội đã kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm kỳ qua đề ra phương hướng, nhiệm vụ 2 năm 1980 - 1981. Đại hội đã bầu ra 31 Ủy viên chính thức BCH Đảng bộ huyện, 02 Ủy viên dự khuyết và bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên. Đại hội bầu Ban Thường vụ 11 đồng chí. Đại hội bầu đồng chí Võ Hữu Đức tái đắc cử Bí thư, đồng chí Võ Văn Trạch và đồng chí Lê Hưởng làm Phó Bí thư.

1.3. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ III, nhiệm kỳ 1982 – 1985:

Đại hội được tiến hành vào ngày 27/12/1982. Đại hội triệu tập 109 đại biểu, có mặt 106 đại biểu. Đại hội đã bầu ra 31 Ủy viên chính thức BCH Đảng bộ huyện, 02 Ủy viên dự khuyết và bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên. Đại hội bầu Ban Thường vụ 11 đồng chí. Đại hội bầu đồng chí Võ Hữu Đức tái đắc cử Bí thư, đồng chí Võ Văn Trạch và đồng chí Lê Hưởng làm Phó Bí thư.

1.4. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IV, nhiệm kỳ 1986 – 1988:

Đại hội khai mạc ngày 9/9/1986 và kết thúc ngày 12/9/1986. Đại hội triệu tập 145 đại biểu, có mặt 141 đại biểu. Đại hội đã bầu ra 39 Ủy viên chính thức BCH Đảng bộ huyện, 04 Ủy viên dự khuyết và bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên. Đại hội bầu Ban Thường vụ 13 đồng chí. Đại hội bầu đồng chí Võ Văn Trạch làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Hoài Dân và đồng chí Nguyễn Lập làm Phó Bí thư.

1.5. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ V, nhiệm kỳ 1988 – 1990:

Đại hội khai mạc vào ngày 19/12/1988. Đại hội triệu tập 152 đại biểu, có mặt 151 đại biểu. Đại hội đã kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ qua và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ tới. Đại hội đã bầu ra 39 Ủy viên chính thức BCH Đảng bộ huyện, 10 Ủy viên dự khuyết và bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên. Đại hội bầu Ban Thường vụ 13 đồng chí. Đại hội bầu đồng chí Nguyễn Hoài Dân làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Thanh Hoàng và đồng chí Thân Văn Thất làm Phó Bí thư.

1.6. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VI, nhiệm kỳ 1991 – 1995:

Đại hội diễn ra từ ngày 26 – 28/10/1991. Đại hội triệu tập 151 đại biểu, có mặt 150 đại biểu. Đại hội đã kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ qua và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong 5 năm tới. Đại hội đã bầu ra 35 Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên. Đại hội bầu Ban Thường vụ 11 đồng chí. Đại hội bầu đồng chí Nguyễn Hoài Dân tái đắc cử Bí thư, đồng chí Nguyễn Thanh Hoàng và đồng chí Trần Văn Bảnh làm Phó Bí thư.

1.7. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VII, nhiệm kỳ 1996 – 2000:

Đại hội diễn ra từ ngày 27-29/3/1996, tham dự Đại hội có 146 đại biểu. Đại hội đã kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ qua và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ tới. Đại hội đã bầu ra 33 Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên. Bầu Ban Thường vụ 11 đồng chí. Đồng chí Trần Văn Bảnh được bầu làm Bí thư, đồng chí Lê Thị Thê và đồng chí Nguyễn Chí Hùng làm Phó Bí thư.

1.8. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2000-2005:

Đại hội diễn ra từ ngày 28-30/11/2000, tham dự Đại hội có 160 đại biểu. Đại hội đã kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết nhiệm kỳ qua và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ tới. Đại hội đã bầu ra 33 Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên. Bầu Ban Thường vụ 11 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Chí Hùng được bầu làm Bí thư, đồng chí Lê Thị Thê và đồng chí Nguyễn Việt Hùng làm Phó Bí thư.

1.9. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IX, nhiệm kỳ 2005 - 2010:

Đại hội diễn ra từ ngày 13-15/11/2002, tham dự Đại hội có 230 đại biểu. Đại hội đã kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ qua và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ tới. Đại hội đã bầu ra 37 Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên. Bầu Ban Thường vụ 11 đồng chí. Đồng chí Lê Thị Thê được bầu làm Bí thư, đồng chí Trần Hùng Minh và đồng chí Nguyễn Việt Hùng làm Phó Bí thư.

1.10. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ X, nhiệm kỳ 2010 – 2015:

Đại hội diễn ra từ ngày 18 đến ngày 20/8/2010, tham dự Đại hội có 259 đại biểu. Đại hội đã kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết nhiệm kỳ qua, đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ tới. Đại hội đã bầu ra 43 Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên. Bầu Ban Thường vụ 13 đồng chí. Đồng chí Phạm Văn Trọng được bầu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Son và đồng chí Ngô Hữu Thệ làm Phó Bí thư. Đến tháng 12 năm 2012 đồng chí Phạm Văn Trọng được Tỉnh ủy rút về tỉnh công tác; đồng thời Tỉnh ủy điều động đồng chí Nguyễn Văn Vĩnh – Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp về làm Bí thư Huyện ủy nhiệm kỳ 2010 – 2015.

1.11. Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 – 2020:

Đại hội diễn ra từ ngày 27 tháng 7 đến ngày 29 tháng 7 năm 2015 tại Hội trường Ủy ban nhân dân huyện, Đại hội có 270 đại biểu tham dự đại diện cho 3.114 đảng viên của toàn Đảng bộ huyện. Đại hội vinh dự đón tiếp Đồng chí Nguyễn Văn Danh, lúc này đồng chí giữ chức vụ Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh đến dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội. Đại hội đã kiểm điểm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị nhiệm kỳ qua và đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ tới. Đại hội đã bầu ra 41 Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và bầu đoàn đại biểu dự đại hội cấp trên. Bầu Ban Thường vụ 13 đồng chí; đồng chí Ngô Hữu Thệ được bầu làm Bí thư Huyện ủy; 02 Phó Bí thư là đồng chí Trần Quang Linh và đồng chí Lê Văn Mỹ.

2. Hướng tới Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

2.1. Chủ đề Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 – 2025:

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Chợ Gạo lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 – 2025 dự kiến được tổ chức vào đầu tháng 8 năm 2020 tại Hội trường Ủy ban nhân dân huyện. Đại hội với chủ đề: “Tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững an ninh trật tự, hướng đến xây dựng huyện nông thôn mới nâng cao”  

2.2. Những kết quả nổi bật trong nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ huyện, nhiệm kỳ 2015 – 2020 trong bối cảnh cả nước có nhiều thuận lợi, kinh tế - xã hội tiếp tục ổn định và phát triển; được sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh, sự hỗ trợ của các sở, ngành, đoàn thể chính trị- xã hội tỉnh, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi trong triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị, sự tập trung của cả hệ thống chính trị và đồng thuận của Nhân dân nên 22/22 chỉ tiêu mà Nghị quyết đại hội đề ra đều đạt và vượt, cụ thể như:

- Phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng chuyên canh, xen canh phù hợp với quy hoạch, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, tập trung các loại cây trồng chủ lực như: Thanh long, dừa, bưởi, trong đó vùng chuyên canh cây thanh long đã trồng mới trên 2.900 ha, nâng đến nay toàn huyện có trên 7.033 ha, đạt 100,5% so Nghị quyết (trong đó có khoảng 6.000 ha đang cho trái), năng suất bình quân đạt 30 tấn/ha, sản lượng thu hoạch từ 180.000 tấn/năm, tăng 1,8 lần so năm 2015. Hiện diện tích thanh long sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP khoảng 2.000 ha chiếm 30% diện tích, từng bước gắn kết sản xuất và tiêu thụ thanh long thông qua các Hợp tác xã, Tổ hợp tác và hệ thống các điểm thu mua trên địa bàn huyện.

- Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là 2.386 tỷ đồng, đạt 100,4% (theo giá so sánh năm 2010), tăng bình quân 25,64%/năm (Nghị quyết 24 - 25%), chủ yếu là duy trì và phát triển các cơ sở sản xuất, gia công, chế biến lương thực, thực phẩm, các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp.

- Lĩnh vực thương mại - dịch vụ trong thời gian qua có bước phát triển khá, tốc độ tăng giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) bình quân khu vực III đạt 13,98%/năm (Nghị quyết 13 - 14%) đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của huyện.

- Trong nhiệm kỳ có 07 dự án thực hiện đầu tư trên địa bàn với tổng vốn trên 821 tỷ đồng, cụ thể: Dự án Chợ và khu phố chợ Bến Tranh, Khu liên hợp thể thao xã Lương Hòa Lạc, Trường Mầm non Long Thạnh Hưng, Khu Thương mại - Dịch vụ Long Bình Điền, Khu khám chữa bệnh theo yêu cầu, Công ty Cổ phần may Phương Đông và Công ty Cổ phần Công nghiệp thực phẩm Thabico Tiền Giang góp phần tạo thêm việc làm cho trên 3.000 lao động. Đang thực hiện mời gọi đầu tư vào dự án Trung tâm mua bán Thanh long và nông sản huyện Chợ Gạo với diện tích 12 ha.

- Trong nhiệm kỳ đã thành lập Chi hội Doanh nghiệp huyện Chợ Gạo trực thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tiền Giang, có 45 hội viên; có 167 doanh nghiệp được thành lập mới, nâng đến năm 2020 có 391 doanh nghiệp hoạt động (tỉnh giao đến năm 2020 có 369 doanh nghiệp), với tổng vốn đăng ký hoạt động trên 798 tỷ đồng.

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (theo phân cấp) giai đoạn 2016 - 2020 là 457,4 tỷ đồng, đạt 138,6% Nghị quyết. Chi ngân sách huyện giai đoạn 2016 - 2020 là 3.456,1 tỷ đồng, chi trong cân đối ngân sách 3.030 tỷ đồng (chi đầu tư phát triển 458 tỷ đồng). Tổng vốn đầu tư công giai đoạn 2016 - 2020 là 1.334,5 tỷ đồng.

- Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, nâng cấp, nhất là các công trình trọng điểm, các tuyến giao thông chính, hạ tầng nông thôn ngày càng được hoàn thiện. Tỷ lệ nhựa hóa, bê tông hóa đường xã quản lý đạt 84,42% (Nghị quyết đạt 80%).  

- Công tác giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được quan tâm chỉ đạo, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Các chính sách xã hội và an sinh xã hội được chăm lo ngày càng tốt hơn; giải quyết việc làm và giảm nghèo đạt kết quả ngày càng cao, tỷ lệ hộ nghèo còn 1,81% (Nghị quyết dưới 2,5% theo chuẩn giai đoạn 2016 - 2020); đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ngày được nâng cao, thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 71 triệu đồng/người (Nghị quyết 70 triệu đồng/người); chất lượng chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phòng chống dịch bệnh tốt hơn, có 100 xã đạt chuẩn về y tế, tỷ lệ hộ dân có nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 100%; duy trì và giữ vững 100% đơn vị đạt chuẩn văn hoá.

- Nhiệm vụ quốc phòng - an ninh được quán triệt, triển khai toàn diện và đạt hiệu quả; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, hàng năm giao quân đạt 100% chỉ tiêu giao. Công tác cải cách tư pháp thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ. Công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng chống tham nhũng, lãng phí được quan tâm chỉ đạo, đạt kết quả tích cực.

- Công tác xây dựng Ðảng, hệ thống chính trị có chuyển biến tích cực. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng được nâng lên, đoàn kết thống nhất trong Ðảng được tăng cường. Công tác tư tưởng, giáo dục lý luận chính trị có nhiều chuyển biến tiến bộ. Đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), qua đó xuất hiện ngày càng nhiều tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác được biểu dương, khen thưởng ở các cấp. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường góp phần ngăn chặn, hạn chế những sai phạm.

- Công tác Dân vận của Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị, hội quần chúng có bước đổi mới, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và phát huy; các nguyện vọng chính đáng của Nhân dân được quan tâm giải quyết kịp thời.

2.3. Những kinh nghiệm được đúc kết qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, nhiệm kỳ 2015 - 2020

 Một là, Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giữ vững và thực hiện nghiêm các nguyên tắc về tổ chức và xây dựng Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp; xây dựng, giữ vững tinh thần đoàn kết thống nhất trong nội bộ, phát huy dân chủ và trí tuệ của tập thể có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra chủ trương và lãnh đạo thực hiện.

Hai là, Vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, của cơ quan, đơn vị là yếu tố quan trọng trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng; đặc biệt là người đứng đầu phải có tầm nhìn bao quát, dám nghĩ, dám làm, nắm vững nguyên tắc, đường lối chủ trương của Đảng, tính năng động, linh hoạt trong vận dụng chủ trương để tạo bước đột phá trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, đặc biệt là trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.  

Ba là, Xác định được tiềm năng và lợi thế của huyện trên từng lĩnh vực để quy hoạch, triển khai các đề án, dự án phát triển, đồng thời khai thác, huy động mọi nguồn lực của xã hội để phục vụ cho đầu tư phát triển.

      Bốn là, Công tác vận động quần chúng, mở rộng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân có ý nghĩa quan trọng trong quá trình lãnh đạo. Tăng cường củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc, chính đáng gắn với chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân.

Năm là, Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát huy phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy đảng, chính quyền.

Sáu là, Chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện sai trái, lệch lạc gắn với xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Thường xuyên coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

2.4. Những chỉ tiêu chủ yếu và giải pháp cơ bản trong nhiệm kỳ 2020 – 2025.

2.4.1 Các chỉ tiêu chủ yếu:

Tốc độ tăng giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) bình quân giai đoạn 2021 - 2025 là: 7 - 8%. Thu nhập bình quân đầu người: 95 - 100 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế đến năm 2025 (theo giá trị sản xuất giá so sánh 2010. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021 - 2025 đạt từ 30.000 - 32.000 tỷ đồng. Thu ngân sách từ kinh tế địa phương (theo phân cấp) giai đoạn 2021 - 2025 đạt 580 tỷ đồng. Đến năm 2025 có trên 450 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn. Tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm 0,75%/năm. Số lao động được tạo việc làm giai đoạn 2021 - 2025 là 10.000 lao động, bình quân mỗi năm tạo việc làm cho 2.000 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo vào năm 2025 là 45%; trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 40%. Giảm tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2025 còn dưới 1% theo chuẩn hiện hành. Phấn đấu xây dựng 8-10 xã nông thôn mới nâng cao và 1-2 xã nông thôn mới kiểu mẫu; huyện hướng tới đạt các tiêu chí huyện nông thôn mới nâng cao. Phấn đấu đến năm 2025 có 5,5 bác sĩ, 12 giường bệnh/vạn dân; giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 8,5%; tiếp tục giữ vững 100% xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 98%. Đến năm 2025, tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi: Nhà trẻ đạt 20 - 25%, mẫu giáo đạt 90%, tiểu học đạt 100%, trung học cơ sở đạt 98,5%, trung học phổ thông đạt 80%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia ở bậc mầm non 50% (12 trường), tiểu học 95% (18 trường), trung học cơ sở và trung học phổ thông 60% (10 trường). Đến năm 2025, 100% hộ dân có nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó có 99% sử dụng cấp nước tập trung theo Quy chuẩn 02/QCVN:2009/BYT. Xử lý chất thải: 95% chất thải rắn được thu gom, xử lý; 98% cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường. Tuyển quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu, đảm bảo chất lượng, đúng quy định. Tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên hàng năm đạt trên 90%; đảng viên hoàn thành nhiệm vụ trở lên đạt 98%. Kết nạp 400 - 450 đảng viên mới.

2.4.2 Các khâu đột phá

- Quy hoạch, mời gọi đầu tư các dự án sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ vào khu vực ven Sông Tiền thuộc các xã Bình Ninh, Hoà Định, Xuân Đông; tiếp tục đầu tư nâng cấp tuyến đường huyện 23C (đường Đê Sông Tiền) - đoạn từ bến phà Bình Ninh đến Xuân Đông và các công trình hạ tầng thiết yếu khác như điện, nước... để tạo điều kiện thu hút đầu tư vào khu vực này nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện. 

 - Kêu gọi đầu tư dự án xây dựng Trung tâm mua bán, chế biến trái Thanh long và một số loại nông sản của huyện với các công trình khép kín như: hệ thống kho lạnh bảo quản, khu vực sơ chế, chế biến, bãi xe container ...với quy mô 12 ha trên địa bàn xã Long Bình Điền (khu đất trại chăn nuôi cũ); gắn với phát triển vùng chuyên canh thanh long theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, phấn đấu có từ 60-70% diện tích đạt tiêu chuẩn GAP để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu theo hướng đa dạng thị trường; hình thành các tổ chức liên kết trong sản xuất như tổ hợp tác, hợp tác xã...để làm đầu mối liên kết sản xuất và tiêu thụ, triển khai rộng rãi các ứng dụng công nghệ, các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu vào quá trình sản xuất nhằm giảm chi phí, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Xem đây là khâu đột phá trong chuỗi liên kết sản xuất - bảo quản - chế biến và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của huyện nhằm đưa khu vực nông nghiệp phát triển bền vững.

- Xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông - thủy lợi, trong đó kiến nghị tỉnh sớm đầu tư nâng cấp mở rộng các tuyến đường tỉnh như 879, 879B, 878B, 877, 877E và các tuyến đường huyện kết nối với thành phố Mỹ Tho, huyện Châu Thành (Long An), huyện Gò Công Tây...đầu tư các tuyến đường huyện trong dự án phát triển thanh long...; đầu tư hoàn chỉnh hệ thống cống điều tiết thuộc hệ Bảo Định, đảm bảo ngăn mặn, trữ ngọt phục vụ vùng sản xuất chuyên canh cây thanh long trước tình hình nước mặn xâm nhập sâu như hiện nay nhằm đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất, vận chuyển, lưu thông hàng hoá của doanh nghiệp và nhân dân.

2.4.3 Những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm

a) Về kinh tế:

- Tiếp tục thực hiện kế hoạch thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TU của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế đô thị 3 vùng, phấn đấu đến năm 2025 giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp đạt trên 7.300 tỷ đồng, diện tích gieo trồng màu hàng năm đạt trên 9.600 ha, diện tích vườn đạt trên 16.500 ha (trong đó diện tích thanh long trên 7.400 ha); tổng đàn heo đạt trên 100.000 con, đàn bò trên 40.000 con, đàn gia cầm đạt 4 triệu con.

  Tiếp tục duy trì và phát triển kinh tế vườn, trọng tâm là các loại cây trồng mà địa phương có thế mạnh, thích ứng với biến đổi khí hậu như: thanh long, dừa, bưởi... tiếp tục triển khai Đề án phát triển vùng chuyên canh cây thanh long theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu theo hướng đa dạng thị trường, phấn đấu đến năm 2025 có từ 60 đến 70% diện tích sản xuất đạt tiêu chuẩn GAP; giữ ổn định diện tích dừa phục vụ cho công nghiệp chế biến, khuyến khích phát triển diện tích vườn dừa lấy nước ở các xã ngoài vùng quy hoạch phát triển thanh long; chuyển diện tích lúa ở các xã thuộc hệ ngọt hóa khoảng 300 ha sang trồng các loại rau màu ngắn ngày, cây ăn trái...

Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất, trong đó, tập trung vào ứng dụng công nghệ sinh học, đồng thời đẩy mạnh việc thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi.

Tiếp tục lãnh đạo xây dựng các hợp tác xã, tổ hợp tác,…làm đầu mối hợp đồng tiêu thụ nông sản và tiếp thu thành tựu công nghệ mới trong sản xuất.

- Tập trung đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhằm đạt yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế; phấn đấu đạt giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng đến năm 2025 đạt trên 3.867 tỷ đồng (theo giá so sánh 2010). Tích cực mời gọi đầu tư thực hiện các dự án, ưu tiên những ngành nghề có công nghệ sản xuất tiên tiến, thân thiện với môi trường, sản xuất hàng hóa giá trị và chất lượng sản phẩm cao. Tạo thuận lợi trong việc đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp chế biến đối với các nhà máy, cơ sở sản xuất khu vực ven sông Tiền thuộc các xã Bình Ninh, Hoà Định, Xuân Đông; chuyển khu vực quy hoạch phát triển công nghiệp trước đây từ xã Tân Thuận Bình sang khu vực này cho phù hợp.

- Tập trung phát triển lĩnh vực thương mại, dịch vụ để tạo chuyển biến trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phấn đấu đến năm 2025 khu vực III chiếm 32,35% trong cơ cấu kinh tế của huyện, giá trị sản xuất toàn ngành thương mại, dịch vụ đạt 5.129 tỷ đồng (theo giá so sánh 2010). Đưa vào khai thác các công trình, dự án đã hoàn thành: Bến chợ huyện, các chợ nông thôn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh- dịch vụ, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ; tập trung phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, quan tâm kết nối phát triển du lịch sinh thái của địa phương; xây dựng kế hoạch kết nối các tuyến du lịch tỉnh để phát huy các điểm có lợi thế về du lịch của huyện như: Khu di tích văn hóa Óc Eo (Gò Thành), đền thờ Thủ Khoa Huân, nhà ông Hương trưởng Hoài, hình thành du lịch sinh thái khu vực đầu Vàm Kỳ Hôn (xã Xuân Đông), vườn sinh thái Thanh long… góp phần phục vụ các tour, tuyến du lịch.

  - Tiếp tục lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân, phát triển doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 và Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 27/12/2016 của Tỉnh ủy nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế. Đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường thu hút đầu tư nhất là lĩnh vực công nghiệp chế biến, phấn đấu đến năm 2025 có 450 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn huyện.

- Đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, ưu tiên đầu tư vào các dự án phát triển, nâng cấp giao thông, điện, nước...kêu gọi đầu tư các dự án phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ vào khu vực ven sông Tiền nhằm khai thác lợi thế khu vực này.

         - Tập trung phát triển các công trình liên kết với thành phố Mỹ Tho, huyện Châu Thành trong liên kết vùng đô thị trung tâm; mở rộng liên kết với Gò Công Tây, Châu Thành - Long An theo hướng Chợ Gạo - Cần Đước để kết nối với thành phố Hồ Chí Minh trong phát triển. Liên kết xây dựng các chuỗi giá trị phát triển cây thanh long đến năm 2025, chuỗi giá trị trên đàn gà và chim cút.

- Tập trung tạo nguồn thu ổn định ngân sách: Tăng cường các biện pháp chống thất thu ngân sách, phấn đấu đến năm 2025 thu ngân sách từ kinh tế địa phương (theo phân cấp) đạt 580 tỷ đồng. Tiếp tục vận động nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng các công trình hạ tầng ở nông thôn theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm.

b) Về Phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới

Tập trung đầu tư chỉnh trang, phát triển thị trấn Chợ Gạo, đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, tăng cường quản lý quy hoạch đô thị, kêu gọi đầu tư xây dựng các khu vực phát triển đô thị theo quy hoạch được duyệt. Tiếp tục triển khai quy hoạch xây dựng đô thị Bến Tranh, phấn đấu đến năm 2030 đạt các tiêu chí đô thị loại 5.

Thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2020 - 2030, nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới, phấn đấu đạt 8 - 10 xã nông thôn mới nâng cao và 1- 2 xã nông thôn mới kiểu mẫu; huyện hướng tới đạt tiêu chí Huyện nông thôn mới nâng cao.

c) Về Văn hóa, xã hội

- Phát triển văn hóa, giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; thông tin và truyền thông:

Tiếp tục thực hiện tốt Chương trình hành động số 49-CTr/HU của Huyện ủy thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; tập trung chỉ đạo việc nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đến năm 2025 toàn huyện có 85-90% gia đình văn hóa; duy trì và giữ vững 100% ấp - khu phố, cơ quan văn hóa; 80% chợ văn hóa, 95% con đường văn hóa; 98% cơ sở thờ tự văn hóa; củng cố nâng chất các xã văn hoá nông thôn mới và thị trấn đô thị văn minh; có 40-45% số người và 30-35% hộ gia đình tham gia tập luyện thể dục, thể thao; đẩy mạnh hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao.

Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông. Triển khai thực hiện chương trình sách giáo khoa phổ thông mới; đẩy mạnh định hướng nghề nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục thể chất cho học sinh; đảm bảo an toàn trường học; nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ các cấp. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy học.

Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Không ngừng nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, đài truyền thanh đảm bảo hoạt động thông suốt, liên tục, ổn định theo nhu cầu hoạt động của các tổ chức và cá nhân. Cơ quan hành chính, Uỷ ban nhân dân, cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đẩy mạnh và thực hiện tốt ứng dụng công nghệ thông trong thực hiện công việc.

- Đảm bảo chăm sóc sức khỏe nhân dân; thực hiện tốt chính sách xã hội, lao động, tiền lương: Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở; duy trì 100% xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; phấn đấu đến năm 2025 có 98% người dân tham gia Bảo hiểm y tế; tích cực thực hiện Bảo hiểm xã hội toàn dân;

 Đẩy mạnh các chương trình giảm nghèo, thoát nghèo bền vững, hàng năm giải quyết việc làm trên 2.000 lao động; bảo đảm đầy đủ kịp thời các chế độ đối với người có công và các chính sách an sinh xã hội. Xây dựng mô hình xã, thị trấn không có trẻ em bị xâm hại, ngược đãi; giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 8,5%.

- Quản lý tốt tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.

 Tiếp tục tuyên truyền, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ về bảo vệ môi trường; tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, việc xử lý rác thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi, bón phân chưa được xử lý…; chủ động trong công tác xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường.

 Tiếp tục kiến nghị cấp trên xây dựng hệ thống dẫn nước ngọt qua kênh Chợ Gạo để cung cấp nguồn nước cho các huyện phía đông nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, mặn xâm nhập sâu vào nội đồng.

d) Về quốc phòng - an ninh: 

Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc, đảm bảo giao quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu giao; bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt công tác cải cách tư pháp; chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tư pháp.

e) Về công tác xây dựng chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng ngày càng vững mạnh:

Không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân huyện và các xã, thị trấn. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy các cơ quan hành chính; tổ chức thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa, một cửa liên thông”; thực hiện hệ thống một cửa điện tử trên các lĩnh vực; nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống Văn phòng điện tử, Trang thông tin điện tử của huyện. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, đề cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, thái độ phục vụ nhân dân. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, sắp xếp, bố trí, điều động, bổ nhiệm, tuyển dụng công chức, viên chức theo đề án vị trí việc làm; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, công chức theo kế hoạch.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Nhân dân trong thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng tổ chức Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, hội quần chúng vững mạnh từ cơ sở. Thực hiện có hiệu quả các nội dung về tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và Nhân dân.

f) Về công tác xây dựng Đảng.

 - Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ chính trị địa phương cơ quan, đơn vị, củng cố niềm tin trong nhân dân đối với Đảng.

- Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và đồng thuận trong xã hội. Đẩy mạnh chỉnh đốn, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và quan liêu. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, phẩm chất, uy tín ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, bảo đảm thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chủ trương của Đảng. Làm tốt công tác chất vấn trong Ðảng, công tác đối thoại với Nhân dân.

BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN ỦY CHỢ GẠO

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

Album trang chủ Album trang chủ

Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

Liên kết Liên kết